Friday, October 4, 2013

Phòng sinh hoạt chung Cuộc đời và sự nghiệp lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ông từng là một bố dạy sử, nhà báo và từng giữ các chức phận: Ủy viên Bộ Chính trị, bí thơ Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam

Cuộc đời và sự nghiệp lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ông nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và chống chọi cho độc lập của Việt Nam.

Cùng đợt thụ phong có Nguyễn Bình được phong Trung tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi).

Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương sau 83 năm và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam, một người hùng của Thế giới thứ ba, nơi có những người dân bị nô dịch đã xem Võ Nguyên Giáp là thần tượng để hạ kiên tâm lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập của riêng mình.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu chỉ đạo cuộc tranh đấu vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) trên cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân ủy. Ông là nhà chỉ huy quân sự nổi bật nhất bên cạnh Hồ Chí Minh trong suốt cuộc chiến và lãnh đạo nhiều chiến dịch lớn cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Võ Nguyên Giáp - Đại tướng trước nhất của nước Việt Nam Ngày 25 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công trước nhất là đánh úp diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần. # Kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tiên nhân, kiến thức quân thế sự giới, lý luận quân sự Mác-Lênin và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân chủ nghĩa được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà trội là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.

Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn”. Ông nhận bằng cử nhân luật năm 1937 (Licence en Droit).

Là đại tướng trước hết của Quân đội dân chúng Việt Nam, ông chỉ huy chính trong chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975). Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho thời đoạn hoạt động báo chí trong thời chiến trường Bình dân Pháp.

Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo đội viên học tập, tiếp nhận, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước bạn, đồng thời nhấc cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tằn tiện sinh mạng lính do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân. # Việt Nam  Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân Đội Quốc gia Việt Nam khi 37 tuổi.

Ông tự tín lên kế hoạch và chỉ huy 4 trong 6 sư đoàn bộ binh khi đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tiến công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề được trang bị đương đại của Liên hiệp Pháp. Kháng chiến chống Pháp  Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan yếu để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý giá như: “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”.

Ông tham dự thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (cần lao), biên tập các báo tin tưởng, quần chúng. Tiểu truyện Đại tướng Võ Nguyên Giáp  Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam.

Tư tưởng quân sự lừng danh của ông có tên gọi là Chiến tranh quần chúng.

Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Thời niên thiếu  Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào).

Cũng trong năm 1946, ông hôn phối với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai). Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng vô thượng vừa mới được thành lập. Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tức trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã nói: “người nào đánh thắng đại tá thì phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, đánh thắng trung tướng thì phong trung tướng, đánh thắng đại tướng thì phong đại tướng”. Khôi Nguyên (Tổng hợp). Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Cho chú toàn quyền chỉ huy. Ông về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền Trung Việt Nam.

Từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp dự phong trào chiến trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của chiến trận và là chủ toạ Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp trở nên ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham dự Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

Ông tham dự vào nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch biên cương thu đông 1950, Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh. Do bận rộn hoạt động cách mệnh, vào năm 1938, ông bỏ dở học chương trình năm thứ tư về Kinh tế Chính trị và không lấy bằng trạng sư. Sau cách mệnh Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử giả vờ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ tạm (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội nhà nước và Dân quân tự vệ.

Đại tướng trước hết của Quân đội quần chúng. Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội quần chúng Việt Nam.

Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở nên ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng cần lao Việt Nam từ năm 1951.

Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền phóng thích quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng liên thanh.

Ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ. [2] Võ Quang Nghiêm là một nho sinh thi bất thành về làm hương sư và bác sĩ Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù. Bắt đầu sự nghiệp quân sự  Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh.

Ông tham dự xây dựng cơ sở cách mệnh, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng. Tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường.

Thời thanh niên  Đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở nhà giam Thừa phủ (Huế), cùng với bồ là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các giáo sư Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng,… Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế.

Các chiến dịch mà ông đã từng dự:  Các chiến dịch ông đã tham dự với nhân cách là Tư lệnh chiến dịch – Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp cùng với Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm tham vấn trưởng chiến dịch: Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) Chiến dịch biên cương (tháng 9 – 10, năm 1950) Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950) Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951) Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951) Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 năm 1951) Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952) Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953) Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 – 5 năm 1954) chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần, đổi thay chiến thuật.

No comments:

Post a Comment