Cô đã dạy các em từng mặt chữ, từng con số trong cảnh ngộ còn khó khăn, thiếu thốn đủ bề, những bài giảng được soạn bên những bữa ăn chỉ có rau rừng và được soạn tranh thủ khi còn ánh nắng mặt trời …Thế nhưng cô đã đem vô cùng mình để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó
Cho đến giờ hai vợ chồng học sinh đó vẫn đến thăm cô, tâm can với cô về cuộc sống. Trung tâm trường cách xa huyện lị, đường sá đi lại hiểm trở, khó khăn, lớp cô đảm trách lại là một lớp có nhiều đối tượng học sinh.
Do đó để các em không bỏ học, cô đã không quản khó khăn, nặng nhọc bám trường, bám lớp, đầu tư nhiều thời gian để nắm bắt tâm can, tình cảm của các em, từ đó khích lệ, khuyến khích các em hăng say học tập và đến lớp đầy đủ.
Cô Tuyền vẫn còn nhớ như in lần vận động được cả hai vợ chồng người dân tộc đi học. Những người làm NCKH cốt yếu phải tự nghiên cứu, mày mò như những con ong siêng năng tích lũy kiến thức cho tầng lớp, may mắn lắm được giải thưởng này, giải thưởng kia thì mới có người biết và quan tâm đến.
Thỉnh thoảng phụ huynh hoặc học sinh nhớ cô giáo đến tặng một vài củ sắn, củ khoai, vài cân ngô hay mấy bông Hoa rừng cùng những lời chúc vẫn còn xẻn lẻn, vụng, những tình cảm linh nghiệm, rất mực mộc mạc, giản dị và thành tâm.
“Với mỗi đay nghiến đang công tác ở vùng sâu, vùng xa như chúng tôi, bên cạnh sự nhiệt huyết với nghề, rất cần sự nhiệt thành, bổn phận và cả sự hy sinh…” Hoàng Thị Tuyền Giáo viên Trường THCS Pác Pó (Hà Quảng - Cao Bằng) Hải Phong
Thấy các em nói thạo tiếng Việt rồi khôn lớn, trưởng thành mà lòng tôi mừng vui khôn xiết”. Thế nhưng, đó lại là một niềm hạnh phúc rất riêng, rất âm thầm, giúp họ có thể vượt qua các nghiên cứu đầy thử thách.
Cô Tuyền tỏ tường: “Đôi khi hạnh phúc của người thầy chỉ cần như thế là đủ”. Cô Phạm Thị Xuân cùng các em học trò Trường tiểu học Nậm Cần trong giờ học môn tiếng Việt Nỗi lòng GV vùng khó Cô giáo Phạm Thị Xuân – Trường Tiểu học xã Nậm Cần, (Tân Uyên - Lai Châu) người đã có 35 năm trong ngành giáo dục và 25 năm trực tiếp làm công tác giảng dạy học trò tiểu học tại những địa bàn thuộc vùng kinh tế, từng lớp đặc biệt khó khăn với 100% học sinh là con em các dân tộc thiểu số, phần nhiều gia đình học trò có cảnh ngộ khó khăn.
Cô Xuân tâm tình: “Tôi cảm thấy hạnh phúc khi thấy con chữ đã về với các em, về với bản làng. TS Trần Thị Chung Toàn – Trưởng khoa tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội – Người vừa được nhận giải thưởng nhân tài sáng tạo nữ Tổng liên đoàn năm 2013 với công trình NCKH “Xây dựng tư liệu học chữ Hán trong tiếng Nhật cho người Việt trên cơ sở tận dụng tri thức Hán - Việt”.
Giờ đây, cô vừa là người mẹ vừa là người bạn của các em học trò và cô đã trở thành thành viên quen thuộc của bản làng Nậm Cần
Cô Toàn bày tỏ: NCKH là một công việc âm thầm, lặng lẽ, làm không vì khen thưởng và không vì danh vọng. Lúc bấy giờ có học sinh lớp 7 người dân tộc Mông bỏ học về nhà lấy chồng, cô đã phải lặn lội hàng chục cây số, đến từng nhà rất nhiều lần để cổ vũ các em đi học, sau bao nhiêu nặng nhọc, nạm, rốt cuộc cô đã vận động được cả 2 vợ chồng tiếp chuyện đi học.
TS Nguyễn Thị Chung Toàn: NCKH là một công việc thầm lặng, lặng lẽ lặng thầm cống hiến Là người vừa trực tiếp giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học từ những năm đầu của thập niên 80, PGS.
Cô kể: Do ảnh hưởng của phong tục tập quán, một bộ phận dân tộc ít người như: Mông, Dao,… có phong tục lấy vợ, lấy chồng sớm.
No comments:
Post a Comment