Friday, October 4, 2013

Việt Nam cần nhà trong ngõ làm gì để đón làn sóng đầu tư từ Nhật Bản?.

Tổng vốn ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt khoảng 24 tỷ USD, đóng góp hơn 30% tổng cam kết giúp đỡ của các nước cho Việt Nam

Việt Nam cần làm gì để đón làn sóng đầu tư từ Nhật Bản?

Giả dụ năm 2010, Nhật Bản chỉ có 144 dự án với tổng vốn đầu tư 2,37 tỷ USD vào Việt Nam thì sang năm 2011 con số này là 227 dự án và vốn đầu tư 2,6 tỷ USD, tăng 9,7%. Cùng với đó là vấn đề ổn định giá điện, hệ thống giá điện ổn định và khả năng cung cấp điện bảo đảm là một trong những nguyên tố góp phần duy trì hoạt động sản xuất kinh dinh của doanh nghiệp đều đặn, một khi giá điện tăng kéo theo giá thành sản phẩm đội lên, phí nhân công cũng từ đó tăng lên ảnh hưởng đến cạnh tranh sản phẩm, nên chi một chính sách giá điện ổn định lâu dài cũng là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài.

014 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 32,784 tỷ USD, tụ họp tại các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Dương, Hồ Chí Minh, Đồng Nai. Việt Nam vẫn được biết đến là quốc gia có lực lượng nhân lực nhiều, rẻ mạt. Bây giờ, còn chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để cuốn hiệu quả dòng vốn đầu tư từ Nhật Bản, cụ thể:    Thứ nhất,    vấn đề về thể chế.

Trong 9 tháng năm 2013 đầu tư của Nhật Bản vẫn nối giữ vị trí dẫn đầu với 210 dự án và 4,7 tỷ USD vốn đăng ký. Điều này chứng minh, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam liên tiếp tăng.

Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, đặc biệt là đội ngũ công nhân được đào tạo chuyên sâu trong các ngành công nghệ cao, đó là lí do vì sao các nhà đầu tư chưa nhắm vào những ngành công nghiệp nặng, ngành công nghệ cao tại Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam cần giải quyết những vấn đề cần kíp trong hệ thống tài chính – ngân hàng để không ảnh hưởng đến luồng vốn đầu tư từ Nhật Bản trong dài hạn.

Điều đó chứng tỏ, hàng loạt những giải phải tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thời kì gần đây đang dần phát huy tác dụng, các hoạt động, chương trình xúc tiến đầu tư để truyền bá môi trường đầu tư của Việt Nam đi đúng hướng. Thứ hai,     vấn đề về hạ tầng cơ sở.

Phần đông đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo (chiếm 83,7% tổng đầu tư của Nhật Bản và chiếm 24% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo), đã giúp Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp, phục vụ đích công nghiệp hóa-hiện đại hóa.

Hiện nay, các doanh nghiệp Nhật ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực như chế biến, sinh sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà Việt Nam có thế mạnh về lực lượng nhân công và trình độ kỹ thuật. Việc giao du với nhà băng bản địa đang là nút thắt đối với doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư ra nước ngoài.

Trong vắng mới nhất của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 9 tháng đầu năm 2013, 48 quốc gia và vùng cương vực có dự án đầu tư tại Việt Nam. Sở dĩ, các vướng mắc về thuế, chính sách thuế của Việt Nam luôn được các nhà đầu tư quan hoài bởi luôn có sự khác nhau trong quá trình thi hành luật ở các địa phương, hơn nữa chính sách thuế thay đổi liên tục làm các nhà đầu tư không kịp nắm bắt.

Thứ ba,    vấn đề nâng cao trình độ nguồn nhân công. Kết quả này cho thấy, Việt Nam đang có lợi thế lớn trong cuộc chạy đua lôi cuốn đầu tư nước ngoài từ Nhật Bản. Bên cạnh đó, thị trường Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng, đầy hứa cũng là sức hút lớn để các doanh nghiệp Nhật Bản dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam. Tới đây, doanh nghiệp Nhật sẽ mở mang đầu tư sang lĩnh vực công nghệ cao.

Tuy nhiên, nếu Việt Nam không đấu cải thiện môi trường đầu tư để tiếp đón làn sóng đầu tư từ Nhật Bản thì các nhà đầu tư sẽ chuyển sang Indonesia, Lào, Myanmar, Campuchia cũng là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, xét về phí nhân lực, Việt Nam vẫn đang cao hơn khu vực Asean (18,3% so với 16,8% - Theo số liệu vắng trong Hội thảo xúc tiến vốn đầu tư Nhật), chưa nói đến chính sách lương lậu liên tục thay đổi, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư mà nước ngoài hướng đến. Hệ thống liên lạc vận chuyển, tình trạng ùn tắc liên lạc, sự ô nhiễm môi trường giao thông ở các thành thị lớn hội tụ đông đúc dân cư đang gây trở lực cho nhà đầu tư; môi trường xử lý nước và chất thải công nghiệp cũng bị vi phạm nghiêm trọng.

Nguồn: internet Trước tình trạng các doanh nghiệp Nhật Bản đang có xu hướng đầu tư sang các nước Asean và Trung Quốc những tháng cuối năm 2013, các doanh nghiệp của Việt Nam đã nắm bắt được cơ hội này để kéo các nhà đầu tư Nhật về phía Việt Nam.

Công nghiệp phụ trợ đang được Nhật chú trọng đầu tư ở Việt Nam. Hiện tại có khoảng 2. Để tạo ra công cạnh tranh trong cuộn nhà đầu tư Nhật Bản so với các đối thủ trong khu vực, đây là thời khắc Việt Nam cần chứng tỏ rõ nét hơn về sức quyến rũ của môi trường đầu tư trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nhà đầu tư Nhật Bản.

Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, để tăng thu hút đầu tư của các nhà đầu tư Nhật Bản, Việt Nam vẫn còn một số rào cản so với các nước trong khu vực, mà rào cản lớn nhất chính là thể chế. 047 dự án FDI còn hiệu lực ở Việt Nam, trong những tháng cuối năm 2013, con số này tiếp tục tăng lên. Điều này gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp cả về tài chính, thời kì. Tính đến hết tháng 07/2013, Nhật Bản có 2.

Đó là sự tin cẩn của người Nhật vào môi trường đầu tư của Việt Nam với một môi trường chính trị, an ninh ổn định và có nhiều tương đồng về văn hóa, tôn giáo.

Nếu chính sách về thuế được giải quyết một cách mau chóng, sáng tỏ, các thủ tục cấp phép nhanh sẽ giúp cho các nhà đầu tư yên tâm hơn, hạn chế được những rủi ro lớn trong hoạt động kinh doanh, song song đảm bảo được yêu cầu về tiến độ cũng như khả năng giải ngân vốn của các nhà đầu tư Nhật, bởi trên thực tại, Nhật luôn là nền kinh tế có số vốn giải ngân đứng đầu.

Vấn đề giải quyết các chính sách về thuế thiếu đồng bộ và chậm. Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,736 tỷ USD, chiếm 31,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Năm 2012 là 317 dự án, vốn đầu tư 5,6 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2011.

No comments:

Post a Comment